Người Anh đã chịu thua trước quyết tâm của Trung Quốc, chấp nhận trả lại Hong Kong trong một cuộc thương thảo bí mật trước năm 1997 và không có mặt người Hong Kong.
Dân Việt trên

Hợp đồng thuê đất hết hạn

Vùng đất ngày nay là Đặc khu Hành chính Hong Kong của Trung Quốc được đặt dưới quyền cai trị của Vương quốc Anh thông qua 3 hiệp ước vào các năm 1842, 1860 và 1898.

Bạn đang xem: Vì sao anh trả hong kong cho trung quốc

Sau khi nhà Thanh bại trận trong Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất và thứ hai, đảo Hong Kong và đảo Cửu Long lần lượt được cắt nhượng cho Anh. Đến năm 1898, nhà Thanh tiếp tục cho Vương quốc Anh thuê vùng đất sẽ trở thành Tân Giới (Hong Kong) với thời hạn 100 năm.

Khi thập niên 1990 cận kề, những người Anh biết rằng họ sẽ phải tính toán về tương lai Hong Kong.

Như số phận của phần lớn thuộc địa nước Anh, tương lai của Hong Kong không bao gồm việc được độc lập. Sau khi gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1971, Trung Quốc đã vận động thành công để đẩy Hong Kong khỏi danh sách “Các Vùng lãnh thổ Chưa Tự trị”.

Đây là nhóm đối tượng mà Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố sẽ “thúc đẩy các biện pháp nhằm mang lại tự do và độc lập hoàn toàn”.

Ban đầu, chính phủ Anh mong muốn và tự tin họ có thể tiếp tục quản lý Hong Kong dù chủ quyền được trả về Trung Quốc. Theo các tài liệu được chính phủ Anh giải mật về sau này, vào cuối thập niên 1970, nội các của Thủ tướng Thatcher muốn kéo dài vô hạn thời gian thuê Tân Giới để “tiếp tục sự nắm quyền của Anh sau năm 1997 nếu người Trung Quốc chấp nhận”, hoặc ít ra họ muốn giữ lại đảo Hong Kong và đảo Cửu Long.

Bắc Kinh bác bỏ đề nghị đó.

Vấp ngã ở Bắc Kinh

Tháng 4/1982 tại Bắc Kinh, trong cuộc gặp với ông Edward Health, khi đó là cựu thủ tướng Anh, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đề xuất ý tưởng “Một Quốc gia, Hai Chế độ”, cho phép Hong Kong giữ lại nền kinh tế “tư bản” và các quyền tự do trong khi chủ quyền được trao trả về Bắc Kinh.

Cuối năm 1982, Thủ tướng Anh Thatcher đến Bắc Kinh, trở thành thủ tướng Anh đầu tiên đến thăm Trung Quốc và chính thức bắt đầu quá trình đàm phán về Hong Kong. Ngày 23/9 năm đó, bà gặp Thủ tướng Triệu Tử Dương tại Đại lễ đường Nhân dân.

Ghi chép từ cuộc gặp cho biết bà Thatcher đã cảnh báo rằng việc đưa Hong Kong về với Trung Quốc, khi ấy là một nền kinh tế vừa bắt đầu mở cửa, sẽ là “thảm họa” đẩy các nhà đầu tư ra xa và gây nên sự sụp đổ của một trung tâm tài chính của thế giới như Hong Kong.

Ông Triệu nói rằng có 2 yếu tố cần cân nhắc khi thương thảo về tương lai Hong Kong, 1 là chủ quyền, 2 là sự ổn định và thịnh vượng của thành phố. “Nếu phải chọn một, Trung Quốc sẽ đặt chủ quyền lên trên ổn định và thịnh vượng”, bản ghi chép kể lại lời thủ tướng Trung Quốc.

Ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình, người đàn ông nhỏ bé nắm giữ quyền lực tối cao tại Trung Quốc thời bấy giờ, cảnh báo bà Thatcher rằng “chỉ một hoặc hai năm tới, Trung Quốc sẽ chính thức tuyên bố lấy lại Hong Kong”. Đó cũng là ngày Margaret Thatcher bị vấp và suýt ngã trước Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh.

Quá trình đàm phán tiếp tục sau khi bà Thatcher rời Anh và kết thúc bằng Tuyên bố chung Anh — Trung năm 1985, theo đó Hong Kong được trả về Trung Quốc dưới quy chế “Một Quốc gia, Hai chế độ”, kết thúc 156 năm cai trị của người Anh.

Ý chí của Đặng Tiểu Bình

Thông tin về cuộc thương thảo Hong Kong chủ yếu được tiết lộ thông qua các tài liệu của chính phủ Anh, được công khai dựa trên quy định các tài liệu nội các phải giải mật sau 20 — 30 năm. Các tài liệu này thường không trích dẫn trực tiếp lời của quan chức Trung Quốc, chủ yếu là các ghi chép từ phía người Anh.

Percy Cradock, Đại sứ Anh tại Bắc Kinh từ năm 1978 — 1983, miêu tả các lãnh đạo Trung Quốc là “những ông già với tư tưởng cứng nhắc, đầy giáo điều và niềm tự hào dân tộc”.

Trong cuốn sáchThe End of Hong Kong: The Secret Diplomacy of Imperial Retreat(tạm dịch: Sự kết thúc của Hong Kong: Ngoại giao Bí mật về Sự rút lui của Đế quốc), Robert Cottrell đã miêu tả như sau về những tính toán của ông Đặng Tiểu Bình:

“Nếu ông ấy đồng ý để người Anh ở lại Hong Kong sau năm 1997, Đặng nói, ông ấy sẽ không khác gì những kẻ phản quốc nhà Thanh cắt đất cho Anh dưới những hiệp ước bất hợp pháp và vô giá trị. Ông ấy không thể làm vậy. Trung Quốc phải khôi phục chủ quyền đối với Hong Kong. Và chủ quyền phải bao gồm sự quản lý. Lá cờ Anh phải ra đi. Thống đốc người Anh phải ra đi”.

Cuộc đàm phán nhiều lần bị đẩy đến bờ vực sụp đổ khi quan chức hai bên sử dụng những lời lẽ thẳng thừng để chỉ trích nhau. Dù vậy, Anh luôn lo lắng Trung Quốc sẽ rút khỏi việc thương thảo.

Các tài liệu được giải mật cho thấy người Anh sợ rằng nếu Đặng “không thể đạt được một thỏa thuận đáng hài lòng với chính quyền Anh, ông ấy có thể quyết định việc sớm đoạt lại Hong Kong”.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2007, cựu thủ tướng Thatcher lần đầu tiên thừa nhận nỗi hối tiếc của bà khi đối mặt với tình thế “bất khả kháng” trong cuộc thương lượng Hong Kong. Cựu thủ tướng thú nhận bà đã buồn bã nhìn cờ Anh được hạ xuống tại Hong Kong năm 1997.

“Tôi muốn tiếp tục sự nắm quyền của người Anh. Nhưng khi việc đó trở nên bất khả thi, vào hoàn cảnh của chúng tôi, tôi chỉ còn cơ hội giữ lại những nét độc đáo của Hong Kong thông qua việc chấp nhận ý tưởng của ông Đặng”, bà nói.

Người Hong Kong bên lề

Hơn 5 triệu người dân Hong Kong khi đó hầu như không có tiếng nói trong suốt quá trình thương thảo của chính phủ Anh và Trung Quốc. Emily Lau, cựu chủ tịch đảng Dân chủ Hong Kong, nói người Hong Kong biết rằng “tất cả những gì họ (người Anh) quan tâm là thương mại. Số phận người Hong Kong chỉ là thứ yếu”.

Lau chỉ ra rằng trong cuộc thương lượng giữa Anh và Argentina về Falklands, cư dân của hòn đảo “có 1.800 người và hàng trăm nghìn con cừu” này vẫn có 1 ghế trên bàn đàm phán. Trong khi đó, người Hong Kong không hề được tham gia vào cuộc đàm phán giữa Anh và Trung Quốc.

Những nỗ lực cuối cùng của một nhóm nghị sĩ trong Hội đồng Lập pháp Hong Kong nhằm trình bày quan điểm của người dân thành phố đều không có kết quả.

“Cả chính phủ Anh và Trung Quốc đều công khai kêu gọi người dân đóng góp ý kiến cho quá trình đàm phán. Nhưng làm sao họ bày tỏ quan điểm nếu họ không biết hoặc biết quá ít về những gì đang diễn ra?”, nghị sĩ Wong Lam nói trong một phiên điều trần của Hội đồng Lập pháp Hong Kong năm 1984.

Dù vậy, người dân Hong Kong sau đó được tham gia vào quá trình soạn thảo Luật Cơ bản, tương tự một hiến pháp thu nhỏ, bộ khung pháp lý để Hong Kong vận hành dưới mô hình “Một Quốc gia, Hai Chế độ”. Thống đốc cuối cùng của Hong Kong, Chris Patten cũng cải cách hệ thống bầu cử Hội đồng Lập pháp để tăng số lượng nghị sĩ được bầu cử trực tiếp.

Nửa đêm 1.7.1997, Anh chính thức chuyển giao chủ quyền Hồng Kông về Trung Quốc , chấm dứt thời gian thuộc địa kéo dài 156 năm của lãnh thổ này.


Hồng Kông là thuộc địa của Anh từ năm 1841, ngoại trừ 4 năm Nhật Bản chiếm đóng từ năm 1941 - 1945 trong giai đoạn Thế chiến 2.

Chiến tranh Nha phiến

Ngược dòng lịch sử, vào thập niên 1820 và 1830, Anh tiến tới kiểm soát các khu vực của Ấn Độ và có ý định trồng bông ở những vùng đất này để giảm lượng nhập khẩu từ Mỹ. Sau khi tham vọng trên thất bại, người Anh nhận ra rằng có thể chuyển sang trồng anh túc với tốc độ khai thác nhanh chóng hơn. Thuốc phiện chế biến từ hoa anh túc được vận chuyển trái phép vào Trung Quốc dưới triều đại nhà Thanh với khối lượng cực lớn, mang đến nguồn lợi nhuận khổng lồ cho Anh. Sau đó, Anh tiến tới muốn đòi quyền tự do buôn bán nha phiến từ Ấn Độ sang Trung Quốc trong khi nhà Thanh có lệnh nghiêm cấm, theo chuyên trang History.

*

Hồng Kông trong thập niên 1980

AFP

Chiến tranh nha phiến lần 1 giữa Anh và Trung Quốc chính thức nổ ra vào năm 1840. Thua trận, năm 1842 nhà Thanh buộc phải ký vào Hiệp ước Nam Kinh nhường lãnh thổ cho bên thắng cuộc, chính thức đánh dấu sự chuyển giao đảo Hồng Kông với thời hạn vĩnh viễn cho người Anh. Năm 1860, nhà Thanh tiếp tục thua trận trong Chiến tranh nha phiến lần 2, và Anh tiến hành sáp nhập bán đảo Cửu Long và bán đảo Stonecutter vào Hồng Kông thông qua Công ước Bắc Kinh. Đến năm 1898, Hồng Kông tiếp tục được mở rộng khi Anh ký thuê khu Tân Giới và các đảo xa trong vòng 99 năm, tức đến năm 1997.

Bất chấp hợp đồng thuê có thời hạn đối với Tân Giới, phần lãnh thổ này nhanh chóng được phát triển và hòa nhập với phần còn lại của Hồng Kông. Khi gần đến hạn chấm dứt hợp đồng, và trong bối cảnh các cuộc đàm phán căng thẳng diễn ra vào thập niên 1980 về tương lai của Hồng Kông, việc tách rời các vùng lãnh thổ và chỉ chuyển giao Tân Giới cho Trung Quốc là điều bất khả thi. Bên cạnh đó, trong tình trạng đất đai và tài nguyên thiên nhiên hiếm hoi ở Hồng Kông, nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn được triển khai ở Tân Giới. Thậm chí, có nhiều kế hoạch được ấn định sau ngày 30.6.1997, tức sau khi Trung Quốc đã tiến hành việc tiếp quản.

*

Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương trong lễ ký kết năm 1984 quyết định việc bàn giao lại Hồng Kông cho Trung Quốc

Cuộc chiến thương thuyết không khoan nhượng

Để có được kết quả trên, Trung Quốc đã tốn không ít công sức. Khi giành được ghế ở LHQ vào năm 1971, Trung Quốc tích cực vận động ngoại giao nhằm tiến tới giành lại quyền kiểm soát cả Hồng Kông lẫn Ma Cao. Đến năm 1972, Đại hội đồng LHQ thông qua nghị quyết loại bỏ Hồng Kông và Ma Cao khỏi danh sách thuộc địa.

Đến tháng 3.1979, ông Murray Mac
Lehose, Thống đốc Hồng Kông, lần đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc. Khi gặp nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình, ông Mac
Lehose chủ động hỏi về chủ quyền của Hồng Kông. Đây được xem là động thái nhằm giải quyết thách thức liên quan đến việc sắp xếp các hợp đồng cho thuê bất động sản và những hợp đồng cho vay ở Hồng Kông, kết thúc vào năm 1997.

Chuyến thăm của ông Mac
Lehose đã vén lên bức màn về câu hỏi liên quan chủ quyền của Hồng Kông. Anh biết về ý định của Trung Quốc nhằm lấy lại quyền kiểm soát lãnh thổ và bắt đầu những bước sắp xếp để đảm bảo duy trì lợi ích tại đây, cũng như có thể rút khỏi nơi này trong trường hợp khẩn cấp. Ba năm sau, Đặc phái viên Edward Heath của chính quyền Thủ tướng Anh Margaret Thatcher đến Bắc Kinh. Trong cuộc gặp với đại diện Anh, ông Đặng Tiểu Bình đưa ra kế hoạch biến Hồng Kông thành đặc khu kinh tế, cho phép duy trì hệ thống tư bản của lãnh thổ dưới chủ quyền của Trung Quốc.

“Quả trứng vàng” Hồng Kông

Sau thời gian cải cách dưới thời thuộc địa Anh, Hồng Kông bứt phá trở thành một trong những trung tâm tài chính và cảng thương mại quan trọng bậc nhất thế giới.

Từ đầu những năm 1960 đến thập niên 1990, Hồng Kông là một trong “bốn con hổ châu Á”, bên cạnh Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan. Đây là 4 nền kinh tế thiết lập các tiêu chuẩn cho đa số nền kinh tế đang phát triển khác ở châu Á hướng đến. Năm 1995, GDP của Hồng Kông đạt hơn 150 tỉ USD, với GDP bình quân đầu người hơn 24.000 USD, cao hơn cả Úc vào thời điểm đó. Với dân số khoảng 6,5 triệu người trong năm 1997 và đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế từ 5 - 6% trong vòng 5 năm gần nhất, Hồng Kông được xem là “quả trứng vàng” vào lúc bấy giờ.

Trong lúc chính quyền Thủ tướng Thatcher muốn tiếp tục sự hiện diện của Anh tại Hồng Kông, Trung Quốc lại đưa ra lập trường ngược lại: Bắc Kinh không chỉ muốn lấy Tân Giới mà còn từ chối công nhận các hiệp ước ký kết sau 2 cuộc Chiến tranh nha phiến, với nội dung giao nộp vĩnh viễn Hồng Kông và bán đảo Cửu Long cho Anh. Tháng 9.1982, Thủ tướng Thatcher đến Bắc Kinh, trở thành thủ tướng Anh đầu tiên công du nước này. Khi gặp ông Đặng Tiểu Bình, Thủ tướng Thatcher nhắc lại tính hợp lệ của việc gia hạn hợp đồng thuê Hồng Kông, đặc biệt là 3 hiệp ước liên quan. Tuy nhiên, ông Đặng Tiểu Bình bác bỏ khả năng thỏa hiệp về vấn đề chủ quyền của Hồng Kông. Trung Quốc đã lên kế hoạch đoạt lại Hồng Kông bằng vũ lực nếu đàm phán thất bại.

Ngày 19.12.1984, Tuyên bố chung Anh - Trung Quốc được ký kết tại Bắc Kinh. Theo đó, Trung Quốc sẽ nối lại việc thực thi chủ quyền với Hồng Kông từ ngày 1.7.1997. Chính quyền Bắc Kinh cũng công bố các chính sách cơ bản đối với lãnh thổ này. Được thực thi theo chính sách “Một quốc gia, hai chế độ”, Hồng Kông được phép giữ nguyên tình trạng ban đầu, với hệ thống lập pháp, lực lượng cảnh sát độc lập và duy trì quyền tự do cho người dân trong 50 năm kể từ ngày chuyển giao. Nếu tuân thủ đúng thỏa thuận đó, Hồng Kông sẽ không thay đổi cho đến năm 2047.

Xem thêm: Tiểu bạch thỏ em chạy đâu cho thoát, vợ à, em chạy không thoát đâu

Đến nửa đêm 1.7.1997, Hồng Kông chính thức chuyển sang giai đoạn mới. Có mặt tại buổi lễ là Thủ tướng Anh Tony Blair, Thái tử Charles, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và Ngoại trưởng Mỹ Madeleine Albright. Lễ bàn giao được truyền trực tiếp toàn thế giới, và thường được xem là dấu chấm hết cho thời kỳ thuộc địa Anh tại châu Á - Thái Bình Dương.