Ngày 21/5, tại Philippines, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời phỏng vấn của Hãng AP (Mỹ) và Reuters (Anh) về tình hình Biển Đông cũng như các biện pháp giải quyết của Việt Nam.

Bạn đang xem: Thủ tướng chính phủ nguyễn tấn dũng: lực lượng

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc liệu Việt Nam có nộp đơn kiện Trung Quốc theo các cơ chế của luật pháp quốc tế hay giải quyết căng thẳng bằng biện pháp quân sự, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Việt Nam đã chịu nhiều đau thương mất mát từ các cuộc chiến tranh xâm lược. Vì thế, chúng tôi luôn tha thiết có hòa bình, hữu nghị để xây dựng và phát triển đất nước. Chúng tôi không bao giờ đơn phương sử dụng biện pháp quân sự, không bao giờ khơi mào một cuộc đối đầu quân sự, trừ khi chúng tôi bị bắt buộc phải tự vệ.

Việt Nam luôn nhất quán sử dụng các biện pháp hòa bình và tận dụng mọi cơ hội, mọi kênh đối thoại để giải quyết tình hình hiện nay một cách hòa bình. Chúng tôi đã hết sức chân thành, thực tâm, thiện chí và kiềm chế, nhưng câu trả lời hiện nay là Trung Quốc ngày càng gia tăng sức mạnh, các hành động uy hiếp và xâm phạm, rồi liên tục vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói. Những hành động của Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam trong nhiều ngày qua là cực kỳ nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.

Có lẽ như tất cả các nước, Việt Nam chúng tôi đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế.”

Trả lời câu hỏi về việc trong bối cảnh căng thẳng leo thang hiện nay ở Biển Đông, Việt Nam có những đề nghị gì đối với cộng đồng quốc tế, có xem xét tham gia các liên minh an ninh không, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết: “Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào để chống lại một quốc gia khác. Đây là chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam. Chúng tôi đã công khai về điều này rất nhiều lần với thế giới.

Về việc Trung Quốc đã hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép, xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông, chúng tôi đã thông báo và thông tin trung thực đến các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước; chính giới và các học giả; truyền thông quốc tế. Những ngày qua, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, lãnh đạo nhiều nước trên thế giới, nhiều cá nhân và tổ chức quốc tế đã lên tiếng bày tỏ quan ngại sâu sắc về mối đe dọa của sự việc này đối với hòa bình, an ninh, ổn định trong khu vực. Tôi tin tưởng rằng cộng đồng quốc tế tiếp tục có đánh giá đúng và tiếng nói thích hợp để ngăn chặn mối đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế, các nước, các cá nhân và tổ chức quốc tế tiếp tục lên tiếng phản đối mạnh mẽ hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc.

Trả lời câu hỏi về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 sâu trong vùng biển của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Tôi chỉ muốn nói rằng, Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam và Trung Quốc vì điều này không chỉ đem lại lợi ích cơ bản và lâu dài cho hai nước Việt-Trung mà còn đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Còn ngược lại, chắc các bạn hoàn toàn có thể hình dung điều gì sẽ xảy ra.

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng, Việt Nam đặc biệt coi trọng và luôn làm hết sức mình đóng góp vào việc gìn giữ và tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp với Trung Quốc. Việt Nam luôn chân thành mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

Đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của Việt Nam, Việt Nam cực lực phản đối các hành động xâm phạm này và kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của mình phù hợp với luật pháp quốc tế”./.

*

Những chủ trương công tác lớn
Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống
Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm
Bình luận - Phê phán
Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống

Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội bao gồm nhiều yếu tố, tập trung ở yếu tố con người, vũ khí, trang bị kỹ thuật và nghệ thuật quân sự. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong tình hình mới là yêu cầu cao, thường xuyên, cấp bách, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và của toàn dân. Song, trước hết, đó phải là trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp, của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đến dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2022 do Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức. Ảnh: TTXVN

Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội là nhân tố vật chất, tinh thần quyết định trạng thái và khả năng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; được xác định bởi tổng thể các yếu tố: trạng thái chính trị - tinh thần, nghệ thuật quân sự, cơ cấu tổ chức, trình độ huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội; số lượng và chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật và phương tiện vật chất khác; trình độ phát triển khoa học quân sự, trình độ và năng lực của cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự chăm lo, giúp đỡ, đùm bọc của các cấp ủy, chính quyền và nhân dân, chất lượng tổng hợp của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng được nâng cao. Đây là nhân tố quan trọng nhất để Quân đội không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về mọi mặt, thực sự là lực lượng nòng cốt cho toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1).

Trong những năm gần đây, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước, Đảng, Nhà nước tập trung xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”(2). Nhờ đó, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội có bước phát triển mới về chất. Quân đội thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; chủ động nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích, đi đầu trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; tích cực giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia. Công tác đối ngoại quốc phòng đi vào chiều sâu, thực chất và trở thành một trụ cột trong kiến tạo, gìn giữ môi trường hòa bình, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế. Đảng bộ Quân đội luôn trong sạch, vững mạnh, Quân đội vững mạnh về chính trị; bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội được giữ vững và phát huy; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng. Trước diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn vững vàng, kiên định, đoàn kết, thống nhất cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song, thế giới đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu, như hòa bình, an ninh năng lượng, chạy đua vũ trang cùng các thách thức an ninh phi truyền thống,... tiếp tục diễn biến với tính chất, quy mô, cường độ ngày càng cao. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Đối với nước ta, qua hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức mới, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng đòi hỏi cao hơn.

Trước tình hình nói trên, Đảng ta xác định phải tiếp tục: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”(3); trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Vì vậy, việc xây dựng Quân đội có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống là yêu cầu cơ bản, thường xuyên, cấp bách, đòi hỏi phải tập trung thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp chủ yếu sau:

Một là,Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạođẩy mạnh xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị,làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Đây là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới, đã được thực tiễn kiểm nghiệm và khẳng định. Nhờ trung thành, vận dụng sáng tạo và luôn quan tâm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị mà cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có giác ngộ chính trị sâu sắc, có nhận thức, hành động thống nhất; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đoàn kết, thống nhất; có tinh thần chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Trung ương, Quân ủy Trung ương về công tác tổ chức xây dựng Đảng, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm. Trong đó, trọng tâm là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; kiên quyết xử lý cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội. Đẩy mạnh công tác dân vận, tăng cường đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân; thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác chính sách và công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh.

Hai là,xây dựng tổ chức Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo bước chuyển biến mới trong nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Để xây dựng tổ chức Quân đội giai đoạn 2021 - 2030 đạt mục đích, yêu cầu đề ra, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; đẩy mạnh quán triệt, giáo dục, tạo sự đồng thuận, quyết tâm chính trị, thống nhất cao; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện với các biện pháp toàn diện, đồng bộ, phù hợp thực tế; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Trong quá trình điều chỉnh tổ chức, cần kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; chú trọng củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; giữ vững ổn định tư tưởng cán bộ, chiến sĩ. Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái và hoạt động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; khắc phục những biểu hiện chủ quan, nóng vội, hình thức, bảo thủ, trông chờ, triển khai thực hiện thiếu quyết liệt.

Ba là,tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật.

Cùng với đó, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cán bộ, sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong các học viện, nhà trường, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội thời kỳ mới. Quán triệt sâu sắc phương châm “Chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”, trên cơ sở đó, đề ra chủ trương, giải pháp sát thực, khả thi. Đi liền với công tác huấn luyện, đào tạo, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc biên giới, nội địa, vùng trời, vùng biển cũng như chủ quyền không gian mạng của Tổ quốc, kịp thời phát hiện, xử lý hiệu quả các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, coi trọng xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật của Quân đội, pháp luật của Nhà nước, cải cách hành chính quân sự, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu”..., góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.

Bốn là,chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, làm nòng cốt xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4); “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(5). Cán bộ và công tác cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu “then chốt” của “then chốt”, mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng; đào tạo và huấn luyện cán bộ là “công việc gốc” của Đảng. Vì thế, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ là giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Thực tiễn lịch sử, truyền thống gần 80 năm của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng cho thấy rõ điều này.

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bảo đảm sự liên thông, kế thừa. Coi trọng bồi dưỡng thường xuyên; gắn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ với trình độ học vấn và lý luận chính trị tương ứng; mở rộng hợp tác đào tạo với các trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở một số lĩnh vực mà Quân đội chưa có điều kiện đào tạo, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về lĩnh vực này, nhất là với các nước bạn bè truyền thống, có nền khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự phát triển. Đẩy mạnh xây dựng, phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao; ưu tiên đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học, giảng dạy, chuyên gia đầu ngành, cán bộ thiết kế chế tạo, quản lý, khai thác làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại, cán bộ làm công tác đối ngoại đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về quốc phòng. Xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị phù hợp với yêu cầu động viên theo các trạng thái quốc phòng. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện, thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhất là chính sách tiền lương, nhà ở, phụ cấp; chính sách khuyến khích cán bộ công tác ở nơi khó khăn, biên giới, biển, đảo; chính sách thu hút nhân tài vào phục vụ trong Quân đội; chính sách đối với hậu phương, gia đình cán bộ. Đồng thời, chăm lo giải quyết tốt chế độ, chính sách đối với người có công và gia đình thương binh, liệt sĩ,... phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Năm là,nâng cao chất lượng công tác khoa học quân sự; công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Xem thêm: Cách Xác Định Vị Trí Qua Facebook Chi, Cách Tìm Vị Trí Facebook Của Người Khác

Khoa học quân sự là một bộ phận không thể thiếu của khoa học và công nghệ quốc gia, là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và người chỉ huy các cấp. Phát triển khoa học quân sự đồng bộ, trọng tâm, trọng điểm; trong đó, khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn có vai trò dẫn dắt, khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự là then chốt, xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học quân sự là nền tảng. Nâng cao năng lực, đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý, mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện chuyển đổi số nhằm thúc đẩy khoa học quân sự phát triển. Tập trung nghiên cứu phát triển khoa học lý luận chính trị, kịp thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ Đảng, Nhà nước trong hoạch định chủ trương, chính sách về quân sự, quốc phòng; phát triển hệ thống lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam; dự báo âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các hình thái chiến tranh trong tương lai; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, hoạt động của khu vực phòng thủ, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại tướng LƯƠNG CƯỜNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

____________

(1) Hồ Chí Minh:Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 14, tr. 435

(2), (3)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 67, 155 – 156